| Chúa Nhật IV Phục Sinh |
| CHIÊN TÔI THÌ NGHE, BIẾT VÀ THEO TÔI |
| Lm Phêrô Phan văn Lợi |
| Chúa nhật thứ tư Phục sinh mỗi năm trở lại như là ngày của Mục tử và của ơn gọi, đặc biệt ơn gọi linh mục và tu sĩ. Trong cả ba năm, sách bài đọc Tin Mừng luôn công bố một đoạn lấy từ chương 10 thánh Gioan. Trong đoạn ngắn được phụng vụ hôm nay cắt từ chương đó, tương quan giữa Mục tử Giêsu và đoàn chiên Giáo Hội được xác định dựa trên một loạt động từ và kiểu nói đặc trưng: nghe, biết, theo, ban sự sống đời đời, không diệt vong, không cướp được. 1. Lắng nghe Mục tử và Cha Người Qua chùm từ ngữ này, được liên kết với nhau bởi một sợi chỉ thiêng liêng sáng ngời, có thể xây dựng câu chuyện toàn bộ về ơn gọi kitô hữu. Ơn gọi này xuất phát từ một tiếng nói vang lên bên ngoài chúng ta: “Những kẻ không tìm Ta, lại được gặp Ta; những kẻ không hỏi Ta, Ta đã xuất hiện cho chúng thấy” (Rm 10,20). Ơn Thiên Chúa đi trước mọi toan tính cá nhân và phá vỡ sự im lặng của tâm thức, y như lời sáng tạo của Người đã phá vỡ sự im lặng của hư vô vậy. Do đó con người phải “lắng nghe”; và chúng ta biết rằng trong ngôn ngữ Kinh Thánh, động từ này chất chứa nhiều âm vang cũng như bao hàm việc gắn bó, vâng phục, chọn lựa sự sống. Nhưng trước khi lắng nghe Đức Kitô, cần phải nhắm mắt một chút. Như vừa thấy, một giọng nói muốn thấu đến chúng ta. Không những từ bên trên những tiếng động của cuộc đời mà cả từ bên trên những xì xào phù phiếm hay xấu xa của con tim chúng ta. Ngay trước lời khẳng định đầy âu yếm của mình, “chiên của tôi thì nghe tiếng tôi”, Đức Giêsu đã có với người Do thái một cuộc trao đổi gay gắt: “Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết! - Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin”. Người đã không nói với những từ mà trong bầu khí đầy xúc cảm của một cuộc tranh luận, rất có thể bị giải thích sai lạc, song đã nói qua mọi hành vi của mình: “Những việc tôi làm làm chứng cho tôi”. Giờ đây Đức Giêsu nói với chúng ta qua các chữ của Tin Mừng, nhưng cũng tiếp tục nói qua các hành vi và qua chính bản chất Con Thiên Chúa của Người nữa. Chỉ cần mở một cuốn Tin Mừng ra, ai nấy đều có thể thấy và nghe Người, tuy nhiên lắm kẻ vẫn mù quáng và điếc đặc. Vì có một khó khăn trong vấn đề nghe. Thánh Gioan bảo ta rằng chẳng phải những “dấu chỉ” (các phép lạ) hay các từ ngữ làm chúng ta gắn bó sâu xa với Đức Giêsu. Phải có một kiểu trong sáng của con mắt và lỗ tai, tự do của trí óc, sẵn sàng của quả tim. Đến cùng Người với nhiều ý tưởng làm sẵn, với lắm tâm tình tiêu cực, sẽ có nguy cơ biến độc giả Tin Mừng thành một kẻ nhìn mù quáng và kẻ nghe điếc lác. Chỉ duy những kẻ rất sẵn sàng mới nhận được tác động của con người ấy, mới thật sự nghe được tiếng nói ấy. Vậy là phải tin để tin? Phải được chinh phục trước? Chúng ta đã suy ngắm mầu nhiệm này bao lần rồi. Chúng ta biết phải chú ý đến độ nào tới ơn lôi kéo đến cùng Đức Kitô và phải tích cực đến độ nào để khai thác ơn ấy. Công việc nội tâm kép này biến ta thành “một con chiên nghe tiếng Người”. Lúc ấy, các dấu chỉ trở nên rõ ràng, và lời Người mở lòng ta đón nhận đức tin. Chúng ta biết nghe Người vì chúng ta “theo Người”. Khi nghe tiếng Người, chúng ta nghe một tiếng khác, tiếng của Chúa Cha: “Chúa Cha và tôi là một”. Vốn sắp làm cho người Do thái giận dữ (“Họ lấy đá để ném Đức Giêsu”, c.31), khẳng định này đẩy chúng ta vào trong một thái độ lắng nghe đầy kinh ngạc thán phục: khi Đức Giêsu nói, thì chính tiếng nói của Chúa Cha thấu đến chúng ta! Có lẽ chính trong thánh lễ Giáng Sinh mà ta đọc được bản văn đẹp nhất về vấn đề này: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử mà Người đã nhờ để dựng nên vũ trụ” (mở đầu thư Do thái). Chớ bao giờ quên điều rất chắc chắn này: trong các lời của Đức Giêsu rung lên sự thật của Thiên Chúa và lòng âu yếm của Thiên Chúa. Nhưng Người cũng có nhiều đòi hỏi đấy chứ? Đúng! song chúng ta có tin Thiên Chúa là tình yêu chăng? Nếu tin thì, vì Đức Giêsu là tiếng nói của tình yêu ấy, ta có thể đón nhận các đòi hỏi ấy như thành phần của cùng sứ điệp tình yêu. 2. Hiểu biết và bước theo Bấy giờ mới thiết lập một mối hiệp thông thân mật và sâu xa giữa Đức Kitô và môn đệ; mối hiệp thông này được xác định bởi một từ Kinh Thánh quan trọng: “biết”. Sự hiểu biết này bao gồm trí tuệ, trái tim, hành động và ở sâu bên trong con người đến độ trở thành trên miệng Đức Giêsu của Gioan chính định nghĩa về sự sống đời đời: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai là Giêsu Kitô” (17,3). Con người đã nghe, làm cho mình được Thiên Chúa nhận biết và đã nhận biết Thiên Chúa thì “theo” Đức Kitô như Mục tử độc nhất của mình. Việc bước theo này phải là thường nhật và liên tục, kể cả khi ở chân trời thấp thoáng bóng chó sói sẵn sàng cấu xé thịt ta và dày vò hồn ta. Trong giây phút đó xuất hiện trong tâm trí chúng ta hai động từ khác của đoạn về Mục tử: chúng ta sẽ không bao giờ “diệt vong” và chẳng ai có thể “cướp” chúng ta khỏi bàn tay chắc chắn và toàn năng của Đức Kitô được. Sự an toàn này dựa trên thần tính của Đức Kitô, Đấng vốn “làm một với Chúa Cha”: thật thế, ngay từ trong Cựu Ước đã có tuyên bố về Thiên Chúa rằng “không ai có thể giật cái gì khỏi bàn tay của Người được” (x. Is 43,13). Sự an toàn này được diễn tả rõ ràng bởi Phaolô trong một thánh thi đặt vào cuối thư Rôma chương 8: “Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (8,38-39). Niềm thanh thản này cũng được xác nhận bởi một con người mới thoạt nhìn xem ra như bị nuốt chửng trong miệng sự dữ. Đó là Rosanna Benzi, một phụ nữ bị giam mình ngay từ tuổi trẻ trong buồng phổi thép. Từ nơi đó cô đã làm báo, viết sách, an ủi nhiều người và đã nói lên câu này: “Tôi bằng lòng, tôi hãnh diện vì đã không để mình bị đánh bại. Tôi chẳng có gì tiếc nuối. Tôi lặp lại rằng tôi hạnh phúc vì đã sống 20 năm nay và sẵn sàng sống những năm tháng còn lại cách bình thản. Bình thản và vui tươi!” Mục tiêu ơn gọi kitô hữu, thật thế, không tối tăm hay bất định nhưng nằm trong câu cuối cùng được Mục tử Giêsu thốt lên: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”. Trong ngôn ngữ Gioan, “sự sống đời đời” không ám chỉ một khoảng thời gian vô tận, một sự bất tử của linh hồn như lời dạy của các triết gia Hy lạp, nhưng trái lại là chính sự sống thần linh, là mối hiệp thông cuộc sống, bình an, hữu thể với chính Thiên Chúa. Lắng nghe Thiên Chúa nơi Đức Giêsu chắc chắn là dấn thân trên những con đường khó khăn nhưng dẫn đến sự sống: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; chúng theo tôi và tôi ban cho chúng sự sống đời đời”. Việc mô tả cách biểu tượng kinh nghiệm này được thấy trong bài đọc hai hôm nay (Kh 7,9.14-17), bài đọc làm sáng lên trong trí chúng ta một bức tranh hoành tráng. Trong bức tranh đó, đoàn lũ đông đảo các môn đệ thuộc mọi miền, mọi thời và mọi nền văn hóa của hành tinh chúng ta không còn đói khát, không còn bị tổn thương bởi các biến động của thiên nhiên và lịch sử, không còn nếm biết vị đắng của nước mắt, không còn phải uống thuốc độc của thần chết, vì Thiên Chúa đã ban cho mọi tín hữu của Người “nguồn nước trường sinh”. Đó là lúc hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa, bỏ lại sau mình thời gian trong đó họ đã phải đắm chìm trong máu của thử thách, của đau khổ và của gian truân vì tham dự vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Giờ đây họ khoác lên y phục sáng chói như của thiên thần trong ngày Chúa sống lại (x. Lc 24,4). Từ đây họ ở trong niềm vui và trên họ căng ra chiếc lều đầy sao của bầu trời, hình ảnh Đền thờ thiên quốc hoàn hảo trong đó Thiên Chúa sẽ hiện diện, hiện diện không như một phản ảnh cần chiêm ngắm trong một tấm gương, nhưng tỏ tường, diện đối diện (x. 1Cr 13,12). |